Tin tức chung
Trang chủ   >  Tin tức  >   Tin tức chung  >  
VNU-UET: Phát triển, khẳng định thương hiệu đào tạo và nghiên cứu khoa học
Ngày 25/5/2014 đánh dấu 10 năm thành lập và phát triển Trường ĐH Công nghệ, ĐHQGHN (25/5/2004 - 25/5/2014). Chặng đường 10 năm xây dựng và phát triển đã ghi nhận sự trưởng thành vượt bậc, Trường ĐHCN là một trong những đơn vị của ĐHQGHN thực hiện sứ mệnh đào tạo nguồn nhân lực xã hội chất lượng cao, góp phần phục vụ công cuộc hiện đại hóa đất nước.

10 năm xây dựng và phát triển
Thực hiện lộ trình hoàn thiện cơ cấu đa ngành, đa lĩnh vực của ĐHQGHN, đặc biệt là phát triển các ngành định hướng công nghệ chuẩn bị cho sự ra đời của Trường Đại học Công nghệ, ngày 18/10/1999, Giám đốc ĐHQGHN đã ký quyết định số 1348/TCCB thành lập Khoa Công nghệ trên cơ sở sắp xếp, tổ chức lại Khoa CNTT và Khoa CN ĐT-VT thuộc Trường ĐH Khoa học Tự nhiên thành hai ngành thuộc Khoa Công nghệ. Ngay sau khi thành lập Khoa Công nghệ, Giám đốc ĐHQGHN đã ký quyết định số 536/TCCB thành lập Ban soạn thảo Đề án thành lập Trường ĐHCN.
Ngày 25/5/2004, Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định số 92/2004/QĐ-TTg thành lập Trường ĐHCN trên cơ sở khoa Công nghệ và Trung tâm Hợp tác Đào tạo và Bồi dưỡng Cơ học thuộc ĐHQGHN với nhiệm vụ: "Đào tạo nguồn nhân lực trình độ đại học, sau đại học và bồi dưỡng nhân tài thuộc lĩnh vực khoa học, công nghệ; Nghiên cứu và triển khai ứng dụng khoa học, công nghệ đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội".
10 năm qua (từ 2004-2014), Trường ĐHCN đã có những bước tiến khẳng định vị thế, thương hiệu và ngày càng hiện thực hóa mục tiêu “trở thành trường ĐH nghiên cứu tiêu biểu của hệ thống giáo dục ĐH Việt Nam, đạt trình độ tiên tiến khu vực năm 2020”.
Về đào tạo, trong giai đoạn năm 2004 - 2014, Trường không ngừng phát triển các yếu tố đảm bảo, nâng cao chất lượng đào tạo. Hệ thống chương trình thường xuyên được cập nhật, bổ sung, nâng cấp, tham chiếu với các chương trình tiên tiến trên thế giới, cơ cấu ngành nghề đào tạo từng bước được hoàn chỉnh.
Tân Cử nhân Trường ĐHCN (Ảnh: BT)
Trường ĐHCN tổ chức thực hiện hiệu quả các chương trình đào tạo, đề xuất và triển khai 4 chương trình đào tạo (2 bậc ĐH, 1 bậc thạc sĩ, 1 bậc tiến sĩ) đạt trình độ quốc tế theo nhiệm vụ chiến lược của ĐHQGHN. Chất lượng đào tạo được nâng lên, tỷ lệ sinh viên có mặt đến năm cuối đạt 92,29%, sinh viên tốt nghiệp đúng hạn đạt trung bình 70%, sinh viên tốt nghiệp có việc làm đúng chuyên môn trong vòng 6 tháng sau tốt nghiệp trung bình là 88,28%. Công tác tuyển sinh đầu vào bậc ĐH, SĐH được ổn định với điểm chuẩn tuyển sinh ĐH luôn giữ ở mức cao,nằm trong nhóm các trường dẫn đầu của cả nước, quy mô tuyển sinh ĐH tăng hợp lý, năm 2004: 470 chỉ tiêu, năm 2014: 700 chỉ tiêu. Quy mô đào tạo SĐH đạt 27,5% so với quy mô đào tạo. Trường ĐHCN là địa chỉ tin cậy được Bộ GD&ĐT giao thực hiện nhiệm vụ huấn luyện, bồi dưỡng đội tuyển học sinh Việt Nam dự thi Olympic tin học quốc tế từ năm 2011, đạt được kết quả cao. Sinh viên Trường ĐHCN nhiều năm liên tục đạt giải cao trong các kỳ thi ACM, PROCON, Imagine Cup, Olympic Tin học, Toán học, Vật lý...
Hoạt động kiểm định chất lượng (KĐCL) được coi là thước đo cho mọi hoạt động của Nhà trường. Trường đã thực hiện kiểm định chất lượng trường ĐH, lần 1 năm 2008, lần 2 năm 2013, trong đó lần kiểm định năm 2013, Trường ĐHCN đạt chuẩn chất lượng khu vực Đông Nam Á theo Bộ tiêu chuẩn đánh giá chất lượng của ĐHQGHN. Đến nay, Trường ĐHCN đã có 03 chương trình đào tạo (CNTT, ĐTVT, KHMT) được kiểm định theo bộ tiêu chuẩn AUN-QA.
Hoạt động NCKH cũng chuyển mạnh từ các nội dung nghiên cứu cơ bản sang các đề tài trong các chương trình nghiên cứu ứng dụng và phát triển giải pháp công nghệ, cả về số lượng đề tài lẫn về kinh phí thực hiện. Công tác nghiên cứu khoa học được kết hợp chặt chẽ với với công tác giảng dạy, học tập và công tác biên soạn giáo trình, tài liệu phục vụ giảng dạy. Trường tiếp tục phát triển “môi trường nghiên cứu tích cực”, đưa hoạt động nghiên cứu trở thành nhu cầu hàng ngày của mỗi cán bộ, giảng viên. Từ năm 2005, công bố khoa học ở tạp chí trong và ngoài nước cùng hội thảo quốc tế đạt tỷ lệ 0.44 bài/GV/năm, đến nay 2 bài/GV/năm. Kinh phí đề tài NCKH cũng tăng lên sau 10 năm, tính bình quân theo giảng viên năm 2004 là 18 triệu đồng/giảng viên, từ năm 2009 đến nay đạt trung bình 90 triệu đồng/giảng viên. Ngoài ra, các sản phẩm KHCN ứng dụng, được chuyển giao cũng ngày càng nhiều (giai đoạn năm 2006-2010: 9 sản phẩm; từ năm 2010-nay: 14 sản phẩm). Hàng năm, Nhà trường chủ trì/phối hợp tổ chức nhiều Hội nghị Khoa học Quốc gia, Quốc tế.
Hoạt động đối ngoại và hợp tác quốc tế của Trường ĐHCN, ĐHQGHN ngày càng phát triển. Trường đang duy trì các hợp tác trong đào tạo, nghiên cứu với hơn 50 đối tác nước ngoài trong đó có những đối tác chiến lược. Hàng năm, Trường cử hơn 80 lượt cán bộ đi tham quan, học tập, giao lưu…ở nước ngoài, trong đó hơn 50% lượt đi do phía đối tác tài trợ. Đặc biệt, Nhà trường tiếp tục đẩy mạnh hợp tác trường-viện trong phát triển khoa phối thuộc theo mô hình 2+”X”, với viện nghiên cứu chuyên ngành như Viện Cơ học, Viện Khoa học Vật liệu, Viện Công nghệ Sinh học, Viện Vật lý, Viện Công nghệ Vũ trụ thuộc Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Viện Khoa học Công nghệ Quân sự thuộc Bộ Quốc phòng, Tập đoàn IMI thuộc Bộ Công thương để xây dựng và phát triển các khoa mới, các ngành/chuyên ngành đào tạo mới và hợp tác cùng thực hiện đề tài KHCN. Khoa Cơ học kỹ thuật và Tự động hóa là sản phẩm đặc thù của mô hình hợp tác này theo đó khoa là đơn vị phối thuộc giữa Trường ĐHCN và Viện Cơ học.
Trường đã ký mới thỏa thuận hợp tác với Trung tâm Vệ tinh Quốc gia, Viện Cơ khí. Năm 2011, Trường đã hợp tác với IBM ra mắt Trung tâm Xuất sắc IBM đặt tại trường ĐHCN và là CoE đầu tiên của IBM ở khu vực ASEAN. Đồng thời, Trường ĐHCN là thành viên sáng lập của Mạng lưới đào tạo chuyên nghiệp châu Á (APEN), đẩy mạnh hợp tác với các đối tác chiến lược, truyền thống và mở rộng hợp tác với các đối tác Nga, Mỹ, Nhật Bản và Hàn Quốc.
Giai đoạn từ năm 2004-2014, nhằm tăng cường năng lực nghiên cứu và nâng cao chất lượng đào tạo, Trường chú trọng vào yếu tố đội ngũ cán bộ, được thể hiện qua việc chất lượng và số lượng đội ngũ cán bộ phát triển qua từng năm (năm 2004: 115 cán bộ; năm 2013: 232 cán bộ). Tỷ lệ giảng viên cơ hữu có học vị tiến sĩ trở lên trong 5 năm trở lại đây luôn đạt 70%, tỷ lệ GS, PGS hiện nay đạt 25%. Tỷ lệ sinh viên/GV quy đổi theo quy định của Bộ GD&ĐT 12,4 SV/GV.
Tự hào, chung tay gây dựng và phát huy truyền thống của Trường
Để góp phần cùng ĐHQGHN hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao cũng như phát huy những truyền thống cao quý của Trường nhân dịp kỷ niệm 10 năm thành lập (25/05/2004-25/05/2014) và 15 năm Ngày truyền thống (18/10/1999-18/10/2014), trong thời gian tới, Nhà trường tập trung thực hiện một số nhiệm vụ hướng tới ngày kỷ niệm vào tháng 10/2014.
Một là, quán triệt sâu sắc và tổ chức thực hiện nghiêm túc các chủ trương, chính sách, định hướng lớn của Đảng, Nhà nước, triển khai các đề án; xây dựng Đảng bộ Trường ĐHCN vững mạnh, lãnh đạo Nhà trường thực hiện tốt mục tiêu xây dựng trường tiến tới đạt được các tiêu chí, chỉ số cụ thể theo lộ trình đã được xác định trong Chiến lược phát triển của Nhà trường và nhất quán theo sứ mệnh tầm nhìn được khẳng định từ khi thành lập đến nay.
Hai là, về công tác tổ chức cán bộ, hoàn thiện công tác tổ chức, bộ máy lãnh đạo của đơn vị; thực hiện tái cấu trúc đơn vị; phát triển nguồn nhân lực ở các khoa với việc tiếp tục các chính sách, chế độ thu hút cán bộ trình độ cao, bồi dưỡng đội ngũ kế cận.
Ba là, đào tạo dựa trên quy hoạch ngành và chuyên ngành triển khai xây dựng các chương trình bậc đại học, bậc sau đại học cùng việc chuẩn bị cơ sở vật chất, con người... quyết tâm tăng chất lượng đào tạo, tiếp cận chuẩn kiểm định chất lượng. Đồng thời, xây dựng và đăng ký kế hoạch kiểm định đối với các CTĐT khác của trường.
Bốn là, tiếp tục phát triển và thiết lập mở rộng quan hệ hợp tác với các đối tác và các trường thành viên ĐHQGHN. Tiếp tục chủ động mở rộng quan hệ hợp tác với các trường đại học trong nước, trong khu vực và trên thế giới để trao đổi, học tập kinh nghiệm và kiến thức tiên tiến về đào tạo.
Năm là, tiếp tục đẩy mạnh thực hiện các giải pháp đảm bảo, nâng cao chất lượng đào tạo; giữ ổn định và từng bước nâng cao các chỉ số tỷ lệ sinh viên có mặt đến năm cuối (phấn đấu đạt 95%); tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp đúng hạn (phấn đấu giữ ổn định 75%); tỷ lệ học viên bảo vệ đúng hạn (phấn đấu đạt 50%); tỷ lệ học viên tốt nghiệp (phấn đấu đạt 90%).
Sáu là, tập trung sự lãnh đạo công tác hậu cần, xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị, phương tiện phục vụ giảng dạy, học tập, nghiên cứu khoa học; chăm lo đời sống của cán bộ, giảng viên và sinh viên. Tiếp tục đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu khoa học với việc hoàn thành các mục tiêu về sản phẩm KHCN có ảnh hưởng đối với xã hội. Tích cực chuyển giao công nghệ, bám sát các chỉ tiêu đánh giá của mô hình đại học nghiên cứu; đấy mạnh các nhóm nghiên cứu định hướng sản phẩm; phấn đấu tỷ lệ kinh phí chi cho các hoạt động đào tạo/nghiên cứu/dịch vụ đạt 6/3/1.
Trải qua 10 năm xây dựng và trưởng thành, những thành tựu mà Trường ĐHCN gặt hái được luôn gắn liền với công sức, trí tuệ của bao thế hệ cán bộ, giảng viên, công nhân viên và sinh viên Nhà trường. Trong giai đoạn phát triển tiếp theo, toàn thể cán bộ, giảng viên, công nhân viên và sinh viên sẽ tiếp tục phát huy truyền thống tốt đẹp, chung sức chung lòng, quyết tâm xây dựng Trường ĐHCN nghệ thực hiện sứ mạng “Đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, trình độ cao, bồi dưỡng nhân tài, nghiên cứu phát triển và ứng dụng các lĩnh vực khoa học- công nghệ tiên tiến trên cơ sở phát huy thế mạnh về CNTT-TT; tiên phong tiếp cận chuẩn mực giáo dục đại học khu vực và thế giới; đóng góp tích cực vào sự phát triển nền kinh tế và xã hội tri thức của đất nước”.
 
 





 Bình Minh - UET
  In bài viết     Gửi cho bạn bè
  Từ khóa :
Thông tin liên quan
Trang: 1   | 2   | 3   | 4   | 5   | 6   | 7   | 8   | 9   | 10   | 11   | 12   | 13   | 14   | 15   | 16   | 17   | 18   | 19   | 20   | 21   | 22   | 23   | 24   | 25   | 26   | 27   | 28   | 29   | 30   | 31   | 32   | 33   | 34   | 35   | 36   | 37   | 38   | 39   | 40   | 41   | 42   | 43   | 44   | 45   | 46   | 47   | 48   | 49   | 50   | 51   | 52   | 53   | 54   | 55   | 56   | 57   | 58   | 59   | 60   | 61   | 62   | 63   | 64   | 65   | 66   | 67   | 68   | 69   | 70   | 71   | 72   | 73   | 74   | 75   | 76   | 77   | 78   | 79   | 80   | 81   | 82   | 83   | 84   | 85   | 86   | 87   | 88   | 89   | 90   | 91   | 92   | 93   | 94   | 95   | 96   | 97   | 98   | 99   | 100   | 101   | 102   | 103   | 104   | 105   | 106   | 107   | 108   | 109   | 110   | 111   | 112   | 113   | 114   | 115   | 116   | 117   | 118   | 119   | 120   | 121   | 122   | 123   | 124   | 125   | 126   | 127   | 128   | 129   | 130   | 131   | 132   | 133   | 134   | 135   | 136   | 137   | 138   | 139   | 140   | 141   | 142   | 143   | 144   | 145   | 146   | 147   | 148   | 149   | 150   | 151   | 152   | 153   | 154   | 155   | 156   | 157   | 158   | 159   | 160   | 161   | 162   | 163   | 164   | 165   | 166   | 167   | 168   | 169   | 170   | 171   | 172   | 173   | 174   | 175   | 176   | 177   | 178   | 179   | 180   | 181   | 182   | 183   | 184   | 185   | 186   | 187   | 188   | 189   | 190   | 191   | 192   | 193   | 194   | 195   | 196   | 197   | 198   | 199   | 200   | 201   | 202   | 203   | 204   | 205   | 206   | 207   | 208   | 209   | 210   | 211   | 212   | 213   | 214   | 215   | 216   | 217   | 218   | 219   | 220   | 221   | 222   | 223   | 224   | 225   | 226   | 227   | 228   | 229   | 230   | 231   | 232   | 233   | 234   | 235   | 236   | 237   | 238   | 239   | 240   | 241   | 242   | 243   | 244   | 245   | 246   | 247   | 248   | 249   | 250   | 251   | 252   | 253   | 254   | 255   | 256   | 257   | 258   | 259   | 260   | 261   | 262   | 263   | 264   | 265   | 266   | 267   | 268   | 269   | 270   | 271   | 272   | 273   |