Tin tức chung
Trang chủ   >  Tin tức  >   Tin tức chung  >  
Quản lý khoa học – công nghệ từ phân tích các nguồn cơ sở dữ liệu
Gần đây, Bộ Khoa học và Công nghệ có thống kê và giới thiệu 20 đơn vị có số lượng bài báo công bố quốc tế nhiều nhất trong giai đoạn 2010 – 2014. Nhân sự kiện này, Phó Giám đốc ĐHQGHN Nguyễn Hữu Đức đã có cuộc trao đổi với phóng viên Cổng thông tin điện tử ĐHQGH xung quanh việc xây dựng văn hóa công bố quốc tế của đơn vị đứng thứ hai trong danh sách.

Năm 2014, theo nguồn của ISI thì ĐHQG Hà Nội có 264 bài báo quốc tế, tương đương với 10% của số lượng cả nước. Theo nguồn của Scopus là 314 bài. Trong vòng 20 năm vừa qua, tính từ năm 1995, số lượng bài báo quốc tế hàng năm của ĐHQG Hà Nội đã tăng gấp 20 lần.

PV: Vì sao lại có sự tăng trưởng mạnh mẽ này, thưa Phó Giám đốc?

- Khoảng 5 năm trở lại đây, văn hóa công bố quốc tế không chỉ được thiết lập ở ĐHQGHN mà nói chung ở nhiều đơn vị nghiên cứu và đào tạo ở Việt Nam nhờ có sự tài trợ của Quỹ Phát triển KH&CN quốc gia (Nafosted). Phải nói rằng, những năm đầu việc này triển khai không dễ, nhưng dần dần thì nhiều nhà khoa học đã thấy quen, hứng khởi và hội nhập một cách vững vàng. Đối với ĐHQGHN, văn hóa này được quan tâm hơn còn nhằm mục tiêu hỗ trợ nâng cao chất lượng đào tạo và sứ mệnh xây dựng đại học định hướng nghiên cứu.

Phó Giám đốc ĐHQGHN Nguyễn Hữu Đức

ĐHQGHN đã có truyền thống nghiên cứu khoa học, đặc biệt là khoa học cơ bản. Gần đây, theo tiếp cận “khoa học vị nhân sinh”, ĐHQGHN tập trung phát triển KHCN  3 quan điểm. Thứ nhất là quan điểm về “thực tiễn và hội nhập” - giải quyết các vấn đề của Việt Nam, nhưng bằng các phương pháp, cách tiếp cận cũng như cách đánh giá, thước đo của quốc tế. Quan điểm thứ hai về “nghiên cứu cơ bản và trình độ cao” – nghiên cứu cơ bản phải hướng đến các phát hiện mới. Các kết quả nghiên cứu mới này cần phải được công bố quốc tế, viết thành sách chuyên khảo, đăng ký bằng sáng chế… Điều này vừa là mục tiêu, phương thức của công việc nghiên cứu khoa học, đồng thời là giải pháp để tăng cường tính phản biện và nâng tầm ảnh hưởng của công trình. Quan điểm thứ ba là về “ứng dụng và sự chuyên nghiệp”. Về nguyên tắc, những ai có nắm bắt tốt các kiến thức cơ bản đều có thể có khả năng vận dụng các kiến thức đã có để triển khai một số sáng chế và cải tiến kỹ thuật. Tùy từng thời điểm, đại học cũng có thể trải qua các bước đó, nhưng về lâu dài và bản chất, vai trò của đại học phải cao hơn thế, phải nghiên cứu được các yếu tố mới và thúc đẩy nền sản xuất vật chất của xã hội bằng các yếu tố có tính cạnh tranh cao. Do đó, nghiên cứu ứng dụng của trường đại học phải có hàm lượng chất xám cao. Với các quan điểm như vậy, công bố các kết quả nghiên cứu trên các tạp chí có uy tín là thước đo năng suất và chất lượng của hoạt động nghiên cứu và phát triển công nghệ, là nền tảng của các ứng dụng.

Việc tăng cường các nghiên cứu trình độ cao còn xuất phát từ nhu cầu nội tại của ĐHQG Hà Nội về đào tạo chất lượng cao, nhất là đào tạo sau đại học. Nhờ có nghiên cứu khoa học mà  hiện nay, hơn 55% nghiên cứu sinh tốt nghiệp tiến sĩ thuộc các lĩnh vực khoa học tự nhiên và công nghệ ở ĐHQG Hà Nội đã có bài báo ISI, trong đó nhiều nghiên cứu sinh có tới 4-5 bài trong thời gian thực hiện đề tài luận án.

PV: Theo thống kê, tỉ lệ số bài báo quốc tế ở khối khoa học xã hội nhân văn còn khá thấp. Tình trạng này ở ĐHQG Hà Nội là thế nào, thưa Phó Giám đốc?

- Đây là tình trạng chung, kể cả các trường ĐH hàng đầu ở trên thế giới. Theo thống kê của tôi thì các công bố quốc tế trên các tạp chí ISI và Scopus ở khối khoa học xã hội nhân văn chỉ chiếm 7-10%. Ở ĐHQGHN hiện nay chiếm khoảng 8% (xem sơ đồ). Đối với các lĩnh vực này, thế mạnh và đặc trưng có lẽ là các sách chuyên khảo. Vậy nên, có lần tôi đã đề nghị Hội đồng chức danh Giáo sư Nhà nước nên có sự điều chỉnh tiêu chuẩn cho các lĩnh vực khác nhau. Đối với khối tự nhiên, công nghệ nên tăng tiêu chuẩn về bài báo và giảm điểm về sách. Còn đối khối khoa học xã hội – nhân văn thì nên ngược lại.

Phân bố số bài báo theo các lĩnh vực của ĐHQG Hà Nội. Nguồn Scopus ngày 18/5/2015.

ĐHQGHN đã có một số giải pháp thúc đẩy các nhà khoa học viết sách chuyên khảo, thậm chí xuất bản bằng tiếng nước ngoài và tham gia viết sách do các nhà xuất bản nước ngoài phát hành. Chủ trương tăng cường từng bước số lượng bài báo quốc tế ở lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn đang nhận được cả sự hỗ trợ, đặc biệt là sự tài trợ từ các đề tài cấp ĐHQG. Theo lộ trình, trước hết, ĐHQGHN khuyến khích các nhà khoa học công bố trên các tạp chí, kỷ yếu hội nghị quốc tế nói chung. Sau đó từng bước xuất bản trên các tạp chí của Scopus, rồi tiến lên xuất bản trên các tạp chí của ISI… ĐHQGHN đang có giải pháp tổ chức các nhóm dịch thuật, biên tập các bài báo và và gửi tới các tạp chí. Một số chuyên gia nước ngoài đang làm việc ở Việt Nam sẵn sàng tham gia vào công việc này.

Để tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà khoa học trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn công bố các kết quả của mình ra thế giới, ĐHQGHN còn có kế hoạch hợp tác với các nhà xuất bản nước ngoài để nâng cấp chất lượng tạp chí khoa học của mình.

PV: Ngoài yếu tố số lượng, thì chất lượng các bài báo quốc tế như thế nào, thưa Phó Giám đốc? ĐHQGHN có quan tâm thống kê số lần trích dẫn không?

- ĐHQGHN không những khuyến khích công bố quốc tế, mà còn khuyến khích các nhà khoa học đăng ở các tạp chí có uy tín. Câu lạc bộ các nhà khoa học của ĐHQG Hà Nội đã thí điểm việc này rất tốt. Theo thông lệ quốc tế, các tạp chí quốc tế trong từng chuyên ngành, lĩnh vực được phân thành 4 nhóm Q1, Q2, Q3 và Q4 (mỗi nhóm 25% tổng số tạp chí) tùy theo chỉ số ảnh hưởng và uy tín. Các nhà khoa học nào có bài đăng trong tạp chí nhóm Q1 và Q2 được hỗ trợ tài chính ở mức cao hơn. Trong thời gian tới, sáng kiến này được chuyển giao áp dụng ở Quỹ Nafosted.

Các nhà khoa học thuộc Phòng thí nghiệm máy gia tốc (Trường ĐHKH Tự nhiên - ĐHQGHN) đang giới thiệu quy trình vận hành máy Pelletron 5SDH-2 là loại máy gia tốc tĩnh điện kép (Tandem) được sản xuất tại hãng National Electrostatics Corporation (NEC) – Hoa Kỳ. Đây là máy gia tốc tĩnh điện hiện đại, lần đầu tiên lắp đặt tại Việt Nam. (Ảnh Bùi Tuấn)

ĐHQG Hà Nội cũng rất quan tâm đến các công bố quốc tế có số lần trích dẫn cao. Thống kê từ nguồn ISI, từ năm 2012 – 2015 ĐHQGHN có 845 bài báo quốc tế, với tổng cộng hơn 3.348 lần trích dẫn, bài cao nhất 186 lần trích dẫn. Trung bình một bài báo có 3,96 lần trích dẫn. So sánh với trường ĐH Chulalongkorn của Thái Lan, trong khoảng thời gian này họ có số bài báo rất nhiều (4955 bài với 16.336 lượt trích dẫn, bài cao nhất là 2.285 lần trích dẫn). Nhưng trung bình mỗi bài báo của họ cũng chỉ có 3,3 lần trích dẫn. Mức độ trích dẫn đang từng bước được ĐHQGHN xem xét để đánh giá, xét tăng giải thưởng…

Theo số liệu của Scopus (xem sơ đồ dưới), từ năm 2012 đến nay, 28,3% các bài báo của ĐHQGHN nằm trong top 10% các bài báo được trích dẫn nhiều nhất ở trên thế giới (số liệu chung của Việt Nam là 22,6%). Có 23,3% các bài báo được đăng trong các tạp chí thuộc nhóm 10% uy tín nhất (số liệu chung của Việt Nam là 17,4%).

PV: Ông nghĩ gì về thống kê cho thấy các công trình có hợp tác nước ngoài thì chất lượng cao hơn so với các công trình toàn bằng nội lực?

- Về tổng thể, tôi có thông tin mức độ hợp tác quốc tế và hợp tác với doanh nghiệp trong các bài báo của ĐHQGHN là 59,4% và 0,8% (số liệu tương ứng của Việt Nam là 68,4% và 0,8%). Mức độ hợp tác quốc tế, số tác giả có địa chỉ từ các quốc gia khác nhau là một chỉ số đánh giá của các bảng xếp hạng quốc tế. Thông tin có thể được phân tích và khai thác khác nhau. Quan điểm của tôi là, các nhóm nghiên cứu đủ mạnh mới có hợp tác quốc tế. Không ai hợp tác với các nhóm không có tiếng tăm gì. Theo cách tiếp cận này, ĐHQGHN đã một số nhóm có những hợp tác quốc tế rất hiệu quả, có nhiều công trình tốt và có trích dẫn rất cao, ví dụ như nhóm của GS Phạm Hùng Việt trong lĩnh vực địa môi trường, hay nhóm của GS Lưu Văn Bôi trong các nghiên cứu nhiên liệu sinh học. Một số bài báo của nhóm GS Việt đã có số trích dẫn trên 300 lần.

Theo tiếp cận khác thì chúng ta cũng nên tự hào và đánh giá cao các công bố quốc tế hoàn toàn thực hiện bằng nội lực. Điều này phản ánh tiềm lực và khả năng giải quyết độc lập các vấn đề KHCN của các nhà khoa học ở nước ta. Trong trường hợp này, có thể nêu tên một số nhóm vừa có xuất bản quốc tế vừa có ứng dụng rất tốt, như nhóm của PGS Đỗ Thị Hương Giang trong lĩnh vực vật liệu và linh kiện nano.

Các chỉ số chất lượng và hợp tác trong các bài báo quốc tế của ĐHQG Hà Nội.
Nguồn: Scopus ngày 18/5/2015.

PV: Có người cho rằng chỉ có khoa học cơ bản mới chú trọng công bố quốc tế, còn nghiên cứu ứng dụng thì không cần. Quan điểm này có thỏa đáng không, thưa Phó Giám đốc?

- Câu hỏi này còn nhiều bàn luận khác nhau lắm. Bản thân tôi đang tiếp cận cận theo thông lệ và quy định của các bảng xếp hạng quốc tế. Bảng xếp hạng QS star (xếp hạng gắn sao) quan niệm rằng một chương trình, đề tài khoa học được tính là một hợp tác của đại học và doanh nghiệp nếu chương trình, đề tài đó có công bố quốc tế và chuyển giao được các kết quả đó cho doanh nghiệp. Thiết nghĩ, doanh nghiệp người ta chỉ cần các phát kiến mới, chưa ai có để phát triển các sản phẩm có tính cạnh tranh cao, còn những điều đã tìm thấy trong sách, trên mạng thì chắc doanh nghiệp tự tìm được. Vậy nên, có thể phân loại rất rõ, có thể có các nghiên cứu ứng dụng không ưu tiên (chứ không phải không cần), nhưng các ứng dụng chuyên nghiệp, trình độ cao thì như trong quan điểm phát triển KHCN thứ 3 đã nói ở trên (ứng dụng và sự chuyên nghiệp), công bố khoa học là một thước đo. Cách tiếp cận này đang được khuyến khích ở ĐHQGHN - nghiên cứu cơ bản đi trước hoặc đồng thời với nghiên cứu ứng dụng. Nghĩa là sản phẩm KHCN không chỉ có ứng dụng được mà được ứng dụng với hàm lượng chất xám rất cao.

Ví dụ như công trình nghiên cứu xây dựng hệ gen người Việt của nhóm PGS Lê Sĩ Vinh. Đây là nghiên cứu làm chủ và phát triển công nghệ tin-sinh trình độ cao. Nghiên cứu này đi trước, có công bố quốc tế, được phản biện quốc tế rồi mới đến bước áp dụng vào rất nhiều ứng dụng trong y học. Ví dụ nữa về thiết kế chip, nhóm của PGS Trần Xuân Tú vừa rồi đã công bố vi mạch VENGME H.264/AVC. Trong quá trình nghiên cứu đi đến sản phẩm này, nhóm đã có tất cả 10 công bố quốc tế với tổng cộng gần 30 lần được trích dẫn.

PV: Theo ông, cần phải làm gì để chọn được những đề tài và định hướng phát triển KH&CN tốt?

- Theo truyền thống, đặc biệt là ở Việt Nam hiện nay, việc xây dựng kế hoạch trung hạn, chiến lược phát triển KHCN hay là xét chọn đề tài nghiên cứu, thường dựa vào ý kiến chuyên gia. Cách làm này bắt đầu có nhiều bất cập, vì một số chuyên gia chỉ phát huy kinh nghiệm và sự suy đoán của mình. Hiện nay, như đã minh họa ở trên, cơ sở dữ liệu khoa học phát triển rất mạnh, đặc biệt là CSDL của ISI (Thomson Reuters) và Scopus (Elsevier). Phân tích các cơ sở dữ liệu này, có thể biết được tình hình và các xu thế nghiên cứu đang thịnh hành, được trích dẫn nhiều nhất trên thế giới. Từ đó có thể tiên đoán xu hướng phát triển của KHCN trong những năm tới. Đây là một nguồn thông tin mà các quốc gia, tổ chức giáo dục và nghiên cứu sử dụng để xây dựng chiến lược phát triển. Đối với nhiều trường đại học trên thế giới, các quỹ phát triển khoa học công nghệ, ngoài hệ thống chuyên viên và quy trình xét chọn có tính chất hành chính bình thường, còn có thêm một nhóm hỗ trợ ra quyết định dựa trên phân tích CSDL khoa học từ các nguồn Web of Science và Scopus (bibliometric analysis and research management).  Cũng từ các nguồn này, người ta cũng có thể đánh giá hiệu quả hoạt động KHCN của các các nhân, tổ chức… Như vậy, việc quản lý khoa học không còn như còn như trước nữa mà đã trở nên định lượng, minh bạch và tin cậy.

Việc sử dụng các CSDL như vậy thời gian vừa qua đã được Quỹ Nafosted triển khai rất tốt. Rõ ràng là công tác quản lý khoa học, xác định các nhiệm vụ khoa học chủ lực không còn phải … đoán nữa.

Xin cảm ơn Phó Giám đốc.

Mô tả và đánh giá chất lượng đại học cần rất nhiều tham số. Mặc dù còn một số hạn chế, nhưng bộ chỉ số đối với các tham số có thể thống kê và so sánh đồng hạng được trong các bảng xếp hạng quốc tế là rất cơ bản. ĐHQG Hà Nội áp dụng quản trị đại học theo tiếp cận quản trị chiến lược, quản trị bộ chỉ tiêu và chỉ số kế hoạch sau:

Tỉ lệ sinh viên/giảng viên: 13,9;

Tỉ lệ giảng viên có trình độ TSKH, TS: 45%;  

Tỉ lệ giảng viên có chức danh GS, PGS: 20,5%;

Số bài báo ISI (2010-2014): 943

Số bài báo trên giảng viên: 0,45;

Số lần trích dẫn/bài báo: 5,1;

Tỉ lệ quy mô đào tạo chất lượng cao: 15,6%;

Tỉ lệ quy mô đào tạo sau đại học: 28%.

>>> Vietnamnet: Văn hoá công bố quốc tế đã được thiết lập

>>> Tin bài liên quan trên website ĐHQGHN:

- ĐHQGHN đứng đầu danh sách các đại học trong top 20 tổ chức của Việt Nam có nhiều công bố quốc tế nhất

- Tốp 300 đại học trong bảng xếp hạng QS Châu Á 2015 

- Các nhóm nghiên cứu mạnh của ĐHQGHN

- Các nhà khoa học của ĐHQGHN phát triển phương pháp kiểm soát sinh học dịch bệnh trong nông nghiệp

- Vi mạch mã hóa video VENGME H.264/AVC – sản phẩm trí tuệ Việt

- Một nhà khoa học của ĐHQGHN đoạt Giải thưởng Tạ Quang Bửu 2015

- Khai mạc Ngày hội Khởi nghiệp và Công nghệ Việt Nam 2015

- Một số hình ảnh về lễ khai mạc ngày hội Khởi nghiệp và Khoa học Công nghệ Việt Nam 2015

- Techfest 2015: Ngày hội lớn nhất năm dành cho khởi nghiệp và công nghệ

 Ngân Anh thực hiện - VNU Media
  In bài viết     Gửi cho bạn bè
  Từ khóa :
Thông tin liên quan
Trang: 1   | 2   | 3   | 4   | 5   | 6   | 7   | 8   | 9   | 10   | 11   | 12   | 13   | 14   | 15   | 16   | 17   | 18   | 19   | 20   | 21   | 22   | 23   | 24   | 25   | 26   | 27   | 28   | 29   | 30   | 31   | 32   | 33   | 34   | 35   | 36   | 37   | 38   | 39   | 40   | 41   | 42   | 43   | 44   | 45   | 46   | 47   | 48   | 49   | 50   | 51   | 52   | 53   | 54   | 55   | 56   | 57   | 58   | 59   | 60   | 61   | 62   | 63   | 64   | 65   | 66   | 67   | 68   | 69   | 70   | 71   | 72   | 73   | 74   | 75   | 76   | 77   | 78   | 79   | 80   | 81   | 82   | 83   | 84   | 85   | 86   | 87   | 88   | 89   | 90   | 91   | 92   | 93   | 94   | 95   | 96   | 97   | 98   | 99   | 100   | 101   | 102   | 103   | 104   | 105   | 106   | 107   | 108   | 109   | 110   | 111   | 112   | 113   | 114   | 115   | 116   | 117   | 118   | 119   | 120   | 121   | 122   | 123   | 124   | 125   | 126   | 127   | 128   | 129   | 130   | 131   | 132   | 133   | 134   | 135   | 136   | 137   | 138   | 139   | 140   | 141   | 142   | 143   | 144   | 145   | 146   | 147   | 148   | 149   | 150   | 151   | 152   | 153   | 154   | 155   | 156   | 157   | 158   | 159   | 160   | 161   | 162   | 163   | 164   | 165   | 166   | 167   | 168   | 169   | 170   | 171   | 172   | 173   | 174   | 175   | 176   | 177   | 178   | 179   | 180   | 181   | 182   | 183   | 184   | 185   | 186   | 187   | 188   | 189   | 190   | 191   | 192   | 193   | 194   | 195   | 196   | 197   | 198   | 199   | 200   | 201   | 202   | 203   | 204   | 205   | 206   | 207   | 208   | 209   | 210   | 211   | 212   | 213   | 214   | 215   | 216   | 217   | 218   | 219   | 220   | 221   | 222   | 223   | 224   | 225   | 226   | 227   | 228   | 229   | 230   | 231   | 232   | 233   | 234   | 235   | 236   | 237   | 238   | 239   | 240   | 241   | 242   | 243   | 244   | 245   | 246   | 247   | 248   | 249   | 250   | 251   | 252   | 253   | 254   | 255   | 256   | 257   | 258   | 259   | 260   | 261   | 262   | 263   | 264   | 265   | 266   | 267   | 268   | 269   | 270   | 271   | 272   | 273   | 274   | 275   | 276   | 277   | 278   | 279   | 280   | 281   | 282   | 283   | 284   | 285   | 286   | 287   | 288   | 289   | 290   | 291   | 292   | 293   | 294   | 295   | 296   | 297   | 298   | 299   | 300   | 301   | 302   |