TIN TỨC & SỰ KIỆN
Phiên bản Tiếng Việt 00:00:00 Ngày 16/09/2020 GMT+7
Phát triển các chương trình đào tạo mới, đáp ứng yêu cầu phát triển Kinh tế- Xã hội
Tham luận của Đảng bộ Trường Đại học Giáo dục, ĐHQGHN trình bày tại Đại hội đại biểu lần thứ VI Đảng bộ ĐHQGHN nhiệm kỳ 2020 – 2025.

 

 

1. Bối cảnh giáo dục Việt Nam

Yêu cầu giải quyết vấn đề nguồn nhân lực, đào tạo được đội ngũ nhân lực có chất lượng cao đáp ứng yêu cầu cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 đang là vấn đề trung tâm, thách thức to lớn đối với Việt Nam hiện nay. Yêu cầu nguồn nhân lực chất lượng cao là một trong những vấn đề lớn nhất trong cuộc Cách mạng 4.0 do những thiếu hụt lớn về nguồn nhân lực trong thị trường kỹ thuật số. Theo dự báo trong những năm tới Việt Nam sẽ thiếu hụt nghiêm trọng nguồn nhân lực trong lĩnh vực công nghệ thông tin nói chung và công nghệ cao nói riêng (khoảng 78 nghìn nhân lực mỗi năm và đến năm 2020 sẽ thiếu hơn 500 nghìn nhân lực, chiếm 78% tổng nhu cầu nhân lực công nghệ thông tin).

Cần đổi mới định hướng và chiến lược phát triển giáo dục, đào tạo tại Việt Nam trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 và sự hình thành nền kinh tế số. Muốn vậy, về mặt nhận thức quan điểm phải thực sự coi giáo dục là quốc sách hàng đầu, từ đó xây dựng các cơ chế chính sách phù hợp, với lộ trình, bước đi hợp lý, khoa học. Chuyển mạnh quá trình giáo dục chủ yếu từ trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học, học đi đôi với hành, lý luận gắn với thực tiễn. Phát triển giáo dục và đào tạo phải gắn liền với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, tiến bộ khoa học - công nghệ, yêu cầu phát triển nguồn nhân lực và thị trường lao động. Thực hiện mục tiêu trong Văn kiện Đại hội XII của Đảng, phấn đấu đến năm 2030, nền giáo dục của Việt Nam đạt trình độ tiên tiến trong khu vực: Đổi mới chương trình, nội dung giáo dục theo hướng tinh giản, hiện đại, phù hợp với mọi lứa tuổi, trình độ, ngành nghề, theo hướng coi trọng phát triển phẩm chất, năng lực của người học. Hoàn thiện hệ thống giáo dục quốc dân theo hướng hệ thống giáo dục mở, phải học tập suốt đời và xây dựng xã hội học tập. Đổi mới căn bản công tác quản lý giáo dục, đào tạo, đảm bảo dân chủ thống nhất; tăng quyền tự chủ và trách nhiệm xã hội của các cơ sở giáo dục, đào tạo; coi trọng quản lý chất lượng.

Trong bối cảnh đó yêu cầu các trường đại học ở Việt Nam cần phát triển chương trình đào tạo ngành nghề mới phù hợp xu thế phát triển, xuất hiện trong thời kỳ kỷ nguyên số, các chương trình đào tạo mở, mang tính liên thông, đa ngành, liên ngành và xuyên ngành đáp ứng yêu cầu đa dạng của thị trường lao động.

2. Các yêu cầu về chính sách, quy định

Ngày 04 tháng 11 năm 2013, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã ký ban hành Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8, Ban Chấp hành Trung ương khóa XI (Nghị quyết số 29-NQ/TW) về đổi mới căn bản, toàn diện Giáo dục và Đào tạo, đáp ứng nhu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế. Nghị quyết đã đề ra những giải pháp quan trọng liên quan đến đào tào nguồn nhân lực cho giáo dục: Đổi mới căn bản hình thức và phương pháp thi, kiểm tra và đánh giá kết quả giáo dục, đào tạo, bảo đảm trung thực, khách quan; Đổi mới căn bản công tác quản lý giáo dục, đào tạo, bảo đảm dân chủ, thống nhất; tăng quyền tự chủ và trách nhiệm xã hội của các cơ sở giáo dục, đào tạo; coi trọng quản lý chất lượng, Phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục và đào tạo; Nâng cao chất lượng, hiệu quả nghiên cứu và ứng dụng khoa học, công nghệ, đặc biệt là khoa học giáo dục và khoa học quản lý.

Chỉ thị số 16/CT-TTg ngày 04/5/2017 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường năng lực tiếp cận cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ 4 đã chỉ ra hàng loạt các giải pháp cấp bách, trong đó nhấn mạnh đối với ngành giáo dục cần “…thay đổi mạnh mẽ các chính sách, nội dung, phương pháp giáo dục và dạy nghề nhằm tạo ra các nguồn nhân lực có khả năng tiếp nhận các xu thế công nghệ sản xuất mới…; đẩy mạnh tự chủ đại học, dạy nghề; thí điểm qui định về đào tạo nghề, đào tạo đại học đối với một số ngành đặc thù...”

Thông tư số 16/2017/TT-BGDĐT hương dân danh mục khung vị trí việc làm và định mức số lượng người làm việc trong các cơ sở giáo dục phổ thông công lập, tại Điều 3 khoản 2b quy định nhóm vị trí việc làm gắn với công việc hỗ trợ phục vụ về công nghệ thông tin; tại Điều 9, khoản b đã quy định vị trí giáo viên kiêm nhiệm làm công tác tư vấn cho học sinh ở trường phổ thông có thể sử dụng từ 03 đến 08 tiết để thực hiện nhiệm vụ tư vấn tùy thuộc vào quy mô và địa bàn của trường học. Thông tư số 31/2017/TT-BGDĐT về Hướng dẫn thực hiện công tác tư vấn tâm lí cho học sinh trong trường phổ thông quy định nhà trường có Tổ tư vấn và bố trí giáo viên kiêm nhiệm để thực hiện công tác tư vấn tâm lí cho học sinh. ..

Theo quy định tại Điều 72 Luật Giáo dục năm 2019, từ ngày 01/7/2020, giáo viên phải đáp ứng điều kiện mới về chuẩn trình độ đào tạo, cụ thể:

-           Giáo viên mầm non: có bằng tốt nghiệp cao đẳng sư phạm trở lên (trước đây chỉ yêu cầu trình độ trung cấp sư phạm);

-           Giáo viên tiểu học: có bằng cử nhân ngành đào tạo giáo viên trở lên (trước đây chỉ yêu cầu trình độ trung cấp sư phạm);

-           Giáo viên trung học cơ sở: có bằng cử nhân ngành đào tạo giáo viên trở lên (trước đây chỉ yêu cầu bằng tốt nghiệp cao đẳng sư phạm hoặc có bằng tốt nghiệp cao đẳng và có chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm)…

 

Thực hiện Điều 72 Luật Giáo dục năm 2019, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Nghị định số 71/2020/NĐ-CP, ngày 30 tháng 6 năm 2020 (Nghị định 71) quy định lộ trình thực hiện nâng trình độ chuẩn được đào tạo của giáo viên mầm non, tiểu học, trung học cơ sở là đến ngày 31 tháng 12 năm 2030, 100% số giáo viên mầm non hoàn thành chương trình đào tạo được cấp bằng tốt nghiệp cao đẳng sư phạm; 100% số giáo viên tiểu học, giáo viên trung học cơ sở hoàn thành chương trình đào tạo được cấp bằng cử nhân.

Trong bối cảnh đổi mới giáo dục, Cách mạng công nghiệp lần thứ 4, những chính sách, pháp luật đề ra là khung pháp lý quan trọng để phát triển giáo dục, đào tạo. Muốn đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội đòi hỏi nguồn nhân lực chất lượng cao phù hợp với nhu cầu xã hội, với xu hướng phát triển. Đây là tiền đề cũng là cơ hội để các cơ sở giáo dục đào tạo các lĩnh vực đào tạo giáo viên và khoa học giáo dục phát triển các chương trình, đào tạo nguồn nhân lực trong giáo dục đáp ứng yêu cầu đổi mới của các cơ sở giáo dục, xu thế phát triển, hội nhập quốc tế sâu rộng hiện nay.

3. Sự phát triển của các lĩnh vực mới trong giáo dục

Đối với giáo dục, cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 với những tác động mạnh mẽ của nó đã bắt đầu có những ảnh hưởng đến nền giáo dục hiện hành và định hình cho tương lai của giáo dục nói chung, giáo dục đại học nói riêng của hầu hết các nước trên thế giới. Để nắm bắt những cơ hội, hạn chế những thách thức của cuộc cách mạng này, nền giáo dục trong các quốc gia cũng có những chuyển đổi tương ứng, tạo thành một hình thái mới mà nhiều người gọi là nền giáo dục 4.0.

Đứng trước những thách thức cũng như cơ hội của Giáo dục 4.0, Trường Đại học Giáo dục (ĐHGD), Đại học Quốc gia Hà Nội (ĐHQGHN) đã và đang có những đổi mới nhất định nhằm thích ứng và đáp ứng nhu cầu xã hội trên tất cả các phương diện hoạt động. Nhà trường phấn đấu không ngừng đổi mới và sáng tạo để có thể dần ứng dụng các sản phẩm của nền giáo dục thông minh trong thời đại 4.0 vào giảng dạy, học tập và quản lý giáo dục, nhằm phát triển Nhà trường theo định hướng đại học nghiên cứu, với mô hình đại học thông minh mang những đặc trưng của nền giáo dục trong kỷ nguyên mới, đó là: sáng tạo - liên ngành - kết nối - công nghệ giáo dục.

Một trong những đặc thù của trường học thông minh là phát triển các chương trình đào tạo mang tính xuyên ngành, giáp ranh giữa các lĩnh vực. Do đó, định hướng của Nhà trường là ưu tiên phát triển các chương trình đào tạo mới, đáp ứng nhu cầu xã hội và sự tiến bộ của thời đại. Phát huy truyền thống 20 năm của Trường ĐHGD là một trong các cơ sở đào tạo giáo viên và khoa học giáo dục luôn tiên phong đổi mới trên cả nước: Tiên phong phát triển những hướng nghiên cứu mới; Tiên phong mở những ngành đào tạo mới như đo lường và đánh giá trong giáo dục, quản trị trường học, công nghệ giáo dục, quản trị chất lượng, tham vấn học đường, tâm lý học lâm sàng trẻ em và vị thành niên,…; Tiên phong trong việc áp dụng các phương pháp giảng dạy mới, gắn đào tạo kiến thức chuyên sâu với bồi dưỡng kỹ năng sống, kỹ năng nghề nghiệp cho người học, ...Chương trình và sách giáo khoa phổ thông mới của Việt Nam sẽ áp dụng cho các cấp học từ năm học 2021-2022 và các môn mới như Khoa học Tự nhiên, Lịch sử và Địa lí, Kinh tế và Pháp luật…. Dạy học môn tích hợp đòi hỏi mỗi giáo viên (GV) phải thay đổi cách dạy từ chỗ tiếp cận đơn môn sang liên môn và đa môn bằng cách trước mắt là tự học, tự nghiên cứu kiến thức khoa học ở mức độ phổ thông, tiếp đó là qua các khóa bồi dưỡng nâng cao trình độ các môn khoa học liên quan. Để dạy học các môn liên ngành, mỗi GV cần phải biên soạn các bài dạy ở mức độ sâu hơn đối với kiến thức môn của mình đồng thời có sự lồng ghép với kiến thức các môn học liên quan trên tinh thần coi bài dạy của GV là “bài học” của học sinh. Nhu cầu đào tạo bồi dưỡng GV từ đơn môn sang tích hợp và đào tạo mới GV các môn học này rất lớn.

4. Thực trạng phát triển các chương trình đào tạo của Trường ĐHGD

Với chủ trương phát triển các ngành/chuyên ngành mới về khoa học giáo dục và đào tạo giáo viên ở nước ta đáp ứng chương trình phổ thông mới (ban hành 2018), Đảng uỷ đã sớm định hướng Nhà trường tổ chức xây dựng và hoàn thiện quy hoạch ngành/chuyên ngành đào tạo của Trường của từng giai đoạn theo hướng cân đối các ngành sư phạm và ngoài sư phạm, cân đối giữa chương trình đào tạo bậc đại học và sau đại học. Hiện tại, Nhà trường có 15 chương trình đào tạo cử nhân, 11 chương trình đào tạo thạc sĩ và 4 chương trình đào tạo tiến sĩ.

-           Các chương trình đào tạo mới:

Trong giai đoạn vừa qua Nhà trường đã xây dựng và triển khai chương trình đào tạo mới với 9 ngành cử nhân, 2 chuyên ngành đào tạo thạc sĩ, 2 chuyên ngành đào tạo tiến sĩ:

+          Nhiều ngành là duy nhất tại Việt Nam như: Quản trị trường học, Quản trị chất lượng giáo dục; Quản trị Công nghệ giáo dục; Đo lường và Đánh giá trong giáo dục; Tham vấn học đường, Khoa học giáo dục.

+          Đáp ứng yêu cầu của chương trình giáo dục phổ thông mới, Trường đã xây dựng các chương trình đào tạo như: Sư phạm Khoa học Tự nhiên; Sư phạm Lịch sử và Địa lý; Lý luận, phương pháp và công nghệ dạy học;

+          Đáp ứng nhu cầu đội ngũ giáo viên đạt chuẩn được đào tạo theo Luật Giáo dục, Trường đã xây dựng các chương trình đào tạo như: Giáo dục Tiểu học; Giáo dục Mầm non;

+          Ngoài ra, Trường cũng đã xây dựng các chương trình đào tạo mới như Khoa học Giáo dục; Tham vấn học đường; Quản trị chất lượng giáo dục; Quản trị Công nghệ giáo dục… đáp ứng yêu cầu nguồn nhân lực cho việc đổi mới toàn diện giáo dục và đào tạo.

-           Phát triển các chương trình đào tạo truyền thống:

 

Ngoài việc phát triển các chương trình đào tạo mới Trường cũng đã tổ chức điều chỉnh, cập nhật các chương trình đào tạo truyền thống theo triết lý tăng cường tính liên thông giữa các ngành/nghề đào tạo; từng bước tạo điều kiện cho người học được học theo triết lý giáo dục khai phóng, cá nhân hóa và học tập suốt đời. Sinh viên được học kiến thức chung đại cương căn bản năm thứ nhất đảm bảo đủ rộng trong các lĩnh vực của khoa học giáo dục và đào tạo giáo viên. Các học phần thực hành được thiết kế tăng thời lượng nhằm mục tiêu cho người học có cơ hội ứng dụng lý thuyết vào thực tiễn và rèn nghề. Đổi mới đào tạo học phần khoá luận tốt nghiệp theo hướng tích lũy hồ sơ dạy học. Bổ sung học phần quy tắc đạo đức nghề nghiệp, điều chỉnh học phần kỹ năng bổ trợ theo hướng là dự án rèn kỹ năng mềm, kỹ năng nghề nghiệp cho sinh viên.

-           Phát triển các chương trình đào tạo mô hình A + B:

Mô hình đào tạo A + B trong 20 năm qua đã có những đóng góp đáng kể trong việc đào tạo đội ngũ giáo viên phổ thông đóng góp một mô hình đào tạo giáo viên hiệu quả, cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao cho giáo dục nước nhà.

Theo mô hình đào tạo A + B, về cơ bản sự phối hợp đào tạo cử nhân sư phạm được thực hiện giữa 7 khoa khoa học cơ bản của 2 trường Đại học Khoa học Tự nhiên (ĐHKHTN) và Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (ĐHKHXHNV) với Trường ĐHGD trong những năm qua được thực hiện khá tốt. Cấu trúc chương trình đảm bảo tính liên thông chặt chẽ, việc tham gia biên soạn và thẩm định chương trình đều có sự đóng góp ý kiến của các nhà khoa học, chuyên gia, cán bộ quản lí thuộc đơn vị phối hợp đào tạo, khối kiến thức M3, M4 đều được xây dựng trên cơ sở kế thừa, tích hợp lựa chọn từ chương trình đào tạo ngành tương ứng của các đơn vị kết hợp đào tạo v.v.

Tuy nhiên, bối cảnh giáo dục Việt Nam gần đây có đổi mới liên quan đến đào tạo giáo viên, vì thế cần thiết phải điều chỉnh phương thức tổ chức và quản lý các chương trình đào tạo cử nhân sư phạm theo mô hình A + B ở ĐHQGHN, cụ thể:

+          Trường ĐHGD đã chuyển đổi chương trình đào tạo sư phạm theo hướng tăng tính tích hợp liên môn, liên ngành, tổ chức tuyển sinh theo nhóm ngành, sinh viên năm thứ nhất học các môn chung của ĐHQGHN, của ĐHGD và phân ngành sau khi kết thúc năm học thứ nhất nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới đào tạo giáo viên.

+          Thực hiện Luật Sửa đổi một số điều của Luật Giáo dục Đại học ngày 19/11/2018, Chính phủ chuẩn bị ban hành Nghị định quy định về chính sách hỗ trợ tiền đóng học phí, chi phí sinh hoạt đối với học sinh, sinh viên sư phạm. Theo đó, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giao nhiệm vụ, đặt hàng đào tạo giáo viên với các Trường Sư phạm theo quy định chung tại Nghị định số 32/2019/NĐ-CP ngày 10 tháng 4 năm 2019 của Chính phủ căn cứ trên cơ sở nhu cầu và kế hoạch đào tạo giáo viên theo từng năm của địa phương. Nhà trường rất cần chủ động trong công tác quản lý, tổ chức và đào tạo sinh viên sư phạm, để tham gia đấu thầu theo Nghị định 32/2019/NĐ-CP.

+          ĐHQGHN thay đổi cơ chế quản lý sinh viên theo mô hình A + B (QĐ số 3169/ TB-ĐHQGHN ngày 09/9/2014 của Giám đốc ĐHQGHN), theo đó sinh viên sư phạm do Trường ĐHGD quản lý toàn bộ thời gian, cần sự thống nhất, đồng bộ trong quản lý đào tạo và quản lý sinh viên. Các trường tham gia đào tạo giáo viên theo mô hình A + B thống nhất điều chỉnh phương thức quản lý đào tạo theo hướng Trường ĐHGD quản lý đào tạo toàn bộ,phối hợp với các trường cử giảng viên tham gia đào tạo theo lịch trình, kế hoạch của Nhà trường.

-           Các chương trình đào tạo bằng kép:

Đào tạo bằng kép đã tạo cho sinh viên của các Trường Đại học Giáo dục cơ hội được cấp bằng đại học thứ hai của một đơn vị đào tạo khác trong Đại học Quốc gia Hà Nội. Trong những năm qua, Nhà trường chủ động điều chỉnh chương trình theo quy định, tăng tính liên thông giữa các chương trình đào tạo trong và ngoài trường thuận lợi cho sinh viên học một lúc hai bằng. Hiện tại Nhà trường đang có các chương trình đào tạo bằng kép trong các ngành đào tạo trong trường, với Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Trường Đại học Ngoại ngữ; Trường đang tích cực phối hợp với Trường Đại học Công nghệ và Khoa Luật để xây dựng các chương trình đào tạo bằng kép. Ngoài ra, sinh viên Trường ĐHGD có thể đăng ký theo học một số học phần trong các chương trình đào tạo của Trường Đại học Kinh tế để tích lũy thêm kiến thức.

5. Cơ chế đảm bảo chất lượng

Để thực hiện triển khai chương trình đào tạo mới theo định hướng chiến lược phát triển, năm học 2017-2018, Nhà trường tái cấu trúc bộ máy thành lập khoa mới: Khoa Công nghệ giáo dục, Khoa Quản trị chất lượng, tái cấu trúc lại với 20 bộ môn thuộc các Khoa. Nhà trường quyết liệt và nhân văn trong rà soát tinh giản bộ máy hành chính tinh gọn và chuyên nghiệp, giảng viên chất lượng cao và hội nhập; thực hiện nhiều chính sách chế độ thu hút và trọng dụng nhân lực có trình độ và khả năng hội nhập với 3GS, 5 PGS, 13 TS, 7 Ths. Bên cạnh đó công tác đánh giá, bồi dưỡng năng lực đội ngũ cũng được chú trọng từ các hoạt động tự bồi dưỡng bên trong, đến cử cán bộ tham gia các khoá bồi dưỡng trong và ngoài nước. Tuy nhiên cũng cần phải nhìn nhận rằng, bên cạnh sự cố gắng nỗ lực của tập thể cán bộ và giảng viên trong suốt nhiệm kì qua, đặc biệt trong 3 năm với nhiều thay đổi bứt phá về mở rộng lĩnh vực đạo tạo khoa học giáo dục; đội ngũ của Nhà trường vẫn còn phải đối mặt với những thách thức mới để có thể đáp ứng được yêu cầu thực hiện nhiệm vụ chiến lược của Trường Đại học Giáo dục với định hướng và tầm nhìn trong giai đoạn mới, mà thành công đến mức độ nào hoàn toàn phụ thuộc vào năng lực của đội ngũ và sự lãnh đạo của Đảng uỷ, BGH. Tính đến thời điểm hiện tại, với đội ngũ 130 cán bộ giảng viên, với tỉ trọng đội ngũ hành chính tinh gọn (khoảng 30%), tỉ lệ GV có trình độ tiến sĩ thuộc nhóm cao trong các trường (80% tổng số giảng viên) của Trường ĐHGD duy trì đồng đều trong các năm liên tiếp.

 

Trong 5 năm qua, Trường ĐHGD đã được đầu tư hệ thống phòng học thông minh (bảng tương tác, màn hình tương tác đa điểm), 3 phòng thực hành dạy học thí nghiệm Vật lí, Hóa học, Sinh học, bước đầu tiến hành sản xuất các bài giảng điện tử có tính tương tác, ứng dụng các công nghệ mới trong dạy học và nghiên cứu theo hướng tương tác mạnh và cá nhân hóa việc học tập. Vì tính cấp thiết của vấn đề trong nghiên cứu và đào tạo, Trường ĐHGD đầu tư một số dự án phòng thí nghiệm chuyên đề: Phòng Thực nghiệm tâm trắc và hướng nghiệp, Phòng Đánh giá trong giáo dục, Phòng Ứng dụng công nghệ và phát triển học liệu số. Trường có 1 trường THPT thực hành trực thuộc, 14 trường phổ thông là cơ sở vệ tinh, nơi thực hành của sinh viên đào tạo theo mô hình A + B và nhiều trường tiểu học, mầm non, các cơ sở giáo dục là cơ sở thực hành cho những ngành mới mở của Nhà trường. Đây là tiền đề quan trọng để triển khai phát triển các chương trình đào tạo.

Để duy trì hoạt động nâng cao chất lượng đào tạo và phù hợp với xu thế đổi mới giáo dục, Đảng uỷ đã có những thảo luận chuyên sâu và ban hành kết luận số 98/ KL-ĐU, ngày 4/6/2018 về một số định hướng trong công tác tổ chức cán bộ, đào tạo và nghiên cứu khoa học, trong đó có định hướng rất cụ thể làm thay đổi nền tảng dạy học theo hướng ứng dụng công nghệ giáo dục như: Dạy học kết hợp - Blended Learning (100% các học phần do Nhà trường quản lý); Kiểm tra đánh giá theo hướng phát triển năng lực người học, tăng cường sử dụng các phương pháp đánh giá thực, đánh giá thích ứng... để đánh giá theo chuẩn đầu ra (100% các học phần giảng dạy); Thay đổi hình thức khoá luận tốt nghiệp của sinh viên theo hướng xây dựng hồ sơ phát triển nghề nghiệp. Đến nay, các chỉ đạo của Đảng uỷ đã cơ bản được Nhà trường triển khai theo đúng kế hoạch, đặc biệt đã dùng hệ thống Moodle để triển khai quản lý và tổ chức đào tạo, với 73 học phần của chương trình đào tạo cử nhân, 67 học phần của chương trình đào tạo thạc sĩ và nhiều khoá bồi dưỡng đã được triển khai trên hệ thống này. Ban hành quy chế về đào tạo kết hợp làm cơ sở vững chắc cho việc thực hiện các nhiệm vụ này.

Nhà trường chủ động đổi mới chính sách khoa học công nghệ đối với người học, giảng viên. Tập trung hướng nghiên cứu lớn cho khoa học, công nghệ giáo dục ứng dụng trong đào tạo giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục. Gắn đào tạo với nghiên cứu khoa học. Giáo dục hòa nhập: nghiên cứu đề xuất những mô hình, chiến lược làm việc hiệu quả với trẻ có từng rối loạn phổ tự kỷ khác nhau trong môi trường giáo dục hòa nhập; Phát triển năng lực chuyên môn của giáo viên để làm việc với trẻ khuyết tật. Bậc học tiểu học, mầm non: Nghiên cứu đề xuất các mô hình giáo dục hiện đại cho các bậc học mầm non, tiểu học đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế...

Kết luận:

 

Đảng bộ Trường ĐHGD quán triệt nghị quyết của Đảng, sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng ủy ĐHQGHN trong các lĩnh vực hoạt động của Nhà trường, trong đó yêu cầu về phát triển chương trình đào tạo; đưa các nghị quyết, chính sách pháp luật, chỉ đạo của cấp trên vào chiến lược, kế hoạch, định hướng phát triển Nhà trường.

Với quan điểm phát triển trở thành “trung tâm nghiên cứu và đào tạo hàng đầu Việt Nam, từng bước đạt chuẩn khu vực trong đào tạo và nghiên cứu về khoa học giáo dục, đào tạo giáo viên, cán bộ lãnh đạo, quản lý giáo dục và cán bộ làm việc trong giáo dục”, trong lĩnh vực đào tạo giáo viên và khoa học giáo dục, Trường đã vận dụng triệt để lợi thế thông qua mô hình đào tạo A + B, mô hình phối thuộc, thế mạnh đa ngành đa lĩnh vực trong ĐHQGHN để điều chỉnh cập nhật các chương trình đào tạo theo định hướng chiến lược nhằm phát triển, xây dựng chương trình đào tạo đáp ứng yêu cầu của xã hội, yêu cầu đổi mới giáo dục và đào tạo, trách nhiệm tiên phong trong giáo dục đại học.

Nhà trường chủ động điều chỉnh các chương trình đào tạo giáo viên theo hướng mở, liên thông, trang bị kiến thức đại cương theo lĩnh vực, tăng thời lượng thực tập rèn nghề, đổi mới nội dung về kỹ năng mềm, khóa luận, luận văn, giáo dục đạo đức đáp ứng yêu cầu đào tạo giáo viên đáp ứng yêu cầu dạy học theo hướng phát triển năng lực gắn với yêu cầu đổi mới các trường phổ thông.

Nhà trường tiếp thu công nghệ đào tạo tiên tiến, tiếp cận chuyển giao các ngành mới chưa có ở Việt Nam, có nhu cầu cao của xã hội phù hợp với xu thế phát triển, hội nhập quốc tế như Quản trị Trường học, Quản trị Công nghệ Giáo dục, Quản trị chất lượng Giáo dục, Tham vấn học đường, Khoa học Giáo dục. Trường đã xây dựng các chương trình đáp ứng yêu cầu của chương trình giáo dục phổ thông mới ở bậc THCS: Sư phạm Khoa học Tự nhiên, Sư phạm Lịch sử và Địa lý và các chương trình có nhu cầu cao của xã hội hiện nay như Giáo dục Mầm non, Giáo dục Tiểu học. Đây là những ngành được đào tạo đáp ứng yêu cầu của chương trình giáo dục phổ thông mới, phù hợp với xu thế phát triển, hội nhập quốc tế.

Nhà trường tiếp tục điều chỉnh chương trình đáp ứng chuẩn đầu ra, theo hướng mở liên thông triết lý giáo dục khai phóng, đổi mới phương pháp và công nghệ dạy học triển khai chương trình đào tạo, áp dụng đào tạo kết hợp, dạy học tiếp cận lớp học đảo ngược trong Nhà trường; Đổi mới phương thức quản lý sinh viên, quản lý đào tạo đáp ứng yêu cầu mới trong đào tạo, chủ động cho đơn vị quản lý chương trình, phù hợp triển khai theo yêu cầu mới trong đào tạo giáo viên theo Luật Giáo dục 2019.

Thực hiện cơ chế đảm bảo chất lượng các chương trình đào tạo liên tục, thường xuyên, xây dựng văn hóa chất lượng: có chính sách thu hút giảng viên, nhà khoa học giỏi, phù hợp, bồi dưỡng đội ngũ hiện có, tăng cường cơ sở vật chất, phòng thí nghiệm, cơ sở thực hành cho các chương trình mới mở.

 

 Hải Đăng - VP Đảng ủy ĐHQGHN
   In bài viết     Gửi cho bạn bè
  Từ khóa :
   Xem tin bài theo thời gian :
TRÊN WEBSITE KHÁC
THĂM DÒ DƯ LUẬN
Bạn sẽ thi vào trường đại học nào?
  • Khoa Quản trị Kinh doanh
  • Trường Đại học Khoa học Tự nhiên
  • Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
  • Trường Đại học Ngoại ngữ
  • Trường Đại học Công nghệ
  • Trường Đại học Kinh tế
  • Trường Đại học Giáo dục
  • Khoa Luật
  • Khoa Quốc tế
  • Khoa Y Dược