TIN TỨC & SỰ KIỆN
Tin tức   Tin tức chung 14:50:25 Ngày 23/10/2019 GMT+7
Hợp tác nghiên cứu giữa ĐHQGHN và Đại học Giao thông Thượng Hải, Trung Quốc trong lĩnh vực công nghệ Y Dược
Tháng 9/2019, ĐHQGHN và Đại học Giao thông Thượng Hải, Trung Quốc đã cùng hợp tác nghiên cứu trong lĩnh vực liên ngành: Công nghệ y dược. Dự án nghiên cứu nằm trong khuôn khổ nhiệm vụ nghị định thư hợp tác khoa học công nghệ chung giữa 2 nước Việt Nam – Trung Quốc.

 

Các thành viên của 2 nhóm nghiên cứu đại diện 2 nước Việt Nam và Trung Quốc

Sử dụng công nghệ nano để ứng dụng chẩn đoán võng mạc đái tháo đường

Bệnh đái tháo đường là một vấn đề y tế công cộng toàn cầu, chiếm tỷ lệ cao, thời gian điều trị kéo dài và chi phí điều trị cao. Theo WHO (2016), trên thế giới có trên 422 triệu người mắc đái tháo đường, còn theo số liệu báo cáo của Nguyễn Nghiêm Luật (2017) tại Việt Nam hiện có 3,5 triệu người bị bệnh này với nhiều biến chứng phức tạp trên tim, hệ mạch, thận, mắt. Trong các dạng biến chứng này, bệnh võng mạc đái tháo đường (VMĐTĐ) là biến chứng mạn tính phổ biến nhất với các mức độ tổn thương khác nhau (Hội đồng nhãn khoa quốc tế, 2017). Theo nhiều tài liệu nghiên cứu, sau 5 năm mắc bệnh ĐTĐ, 44% bệnh nhân sẽ phát triển thành VMĐTĐ, sau 7 năm con số này là 56% và sau 15 năm, tỷ lệ này là 80% (Nguyễn Thị Thu Thủy, 2017).

Nếu không được phát hiện và điều trị sớm, những tổn thương của bệnh ở đáy mắt sẽ rất nặng nề như phù hoàng điểm, xuất huyết võng mạc, xuất huyết dịch kính, bong võng mạc, v.v (Hội đồng nhãn khoa quốc tế, 2017). Đây cũng là nguyên nhân gây mù hàng đầu đối với những người làm việc tại các nước phát triển. Theo ước tính của Hiệp hội nghiên cứu ĐTĐ Địa Trung Hải (MGSD), tính đến năm 2015, thế giới có 415 triệu bệnh nhân ĐTĐ người lớn, trong đó có 145 triệu bệnh nhân VMĐTĐ và 45 triệu người bị mù lòa do VMĐTĐ. Đến năm 2040, các con số này được dự đoán lần lượt là 642 triệu người mắc ĐTĐ, 224 người có biến chứng VMĐTĐ và 70 triệu người bị mù lòa do VMĐTĐ.

Hiện nay, chẩn đoán VMĐTĐ chủ yếu dựa trên thăm khám lâm sàng và kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh với các bước cơ bản như sau: 1) khám tổng quát và khám đáy mắt; 2) Soi đáy mắt; 3) Chụp mạch huỳnh quang kỹ thuật số; 4) Chụp cắt lớp võng mạc. Căn cứ vào mức độ tổn thương và mức độ tăng sinh của hệ vi mạch máu trong võng mạc, người ta có thể đưa ra những kết luận chẩn đoán như 1) Không có bệnh VMĐTĐ rõ ràng; 2) Bệnh lý võng mạc nề hay VMĐTĐ không tăng sinh; 3) Bệnh lý VMĐTĐ tăng sinh (tiền tăng sinh, tăng sinh, ổn định); 4) Bệnh lý Phù hoàng điểm ĐTĐ (trung tâm hoặc ngoài trung tâm) (Hội đồng nhãn khoa quốc tế, 2017). Với các kỹ thuật hiện nay, mặc dù có thể chẩn đoán xác định bệnh VMĐTĐ tuy nhiên, việc chẩn đoán này thường ở các giai đoạn bệnh đã tiến triển và thậm chí đã có những biến chứng nguy hiểm. Vì những lý do trên, việc phát triển không ngừng các kỹ thuật chẩn đoán luôn là vấn đề cấp bách không chỉ cho chẩn đoán sớm các bệnh ung thư, tim mạch mà còn cho các bệnh lý rối loạn chuyển hóa như ĐTĐ và các biến chứng của ĐTĐ trong đó có biến chứng VMĐTĐ, thông qua các dấu ấn sinh học xuất hiện trong mẫu bệnh phẩm (Jin và cs, 2016).

Thời điểm cuối cuộc cách mạng khoa học công nghệ 3.0, đầu cách mạng khoa học công nghệ 4.0, vật liệu micro/nano là một trong các vật liệu được phát triển mạnh mẽ và có nhiều ứng dụng trong đời sống như chế tạo các linh kiện điện tử, dẫn thuốc điều trị và đặc biệt trong việc phát hiện các dấu ấn sinh học trong mẫu bệnh phẩm ứng dụng trong chẩn đoán và điều trị bệnh (Vũ Đình Cực, 2004). Để đạt được hiệu quả phân tích chẩn đoán, việc chuẩn bị mẫu đã trở thành một bước quyết định nhằm nâng cao độ chính xác và độ nhạy của phân tích sinh học. So với các vật liệu nano khác, vật liệu nano (periodic mesoporous organosilica) với kích thước ~ 2-50 nm dễ dàng điều chỉnh được cấu trúc, hình dạng, bề mặt hóa học và phân bố đồng đều có thể giúp cho việc phân tích các phân tử theo kích cỡ một cách hiệu quả. Do tỷ lệ bề mặt và khối lượng tương đối lớn và đặc tính phụ thuộc vào kích cỡ độc đáo, vật liệu micro/nano rất hấp dẫn và đã được áp dụng trong nghiên cứu sinh học phân tử, đặc biệt là dùng phân tích, phát hiện peptide hoặc protein trong mẫu sinh học.

TS. Vũ Thị Thơm, Chủ nhiệm Bộ môn Y Dược học cơ sở, Khoa Y Dược, ĐHQGHN Chủ nhiệm nhiệm vụ khoa học

TS. Vũ Thị Thơm, Chủ nhiệm Bộ môn Y Dược học cơ sở, Khoa Y Dược, ĐHQGHN cho biết, nhóm nghiên cứu của Khoa Y Dược đã phối hợp với nhiều nhóm nghiên cứu có uy tín trong nước từ Trường ĐH Công nghệ, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên - ĐHQGHN, Bệnh viện E, Bệnh viện Mắt Trung Ương được Bộ Khoa học và Công nghệ cấp kinh phí để thực hiện nhiệm vụ khoa học này. Đại học Giao thông Thượng Hải là một đại học đứng thứ hạng cao trong bảng xếp hạng quốc tế. Nhóm nghiên cứu của Đại học Giao thông Thượng Hải là một nhóm nghiên cứu mạnh, có nhiều công bố uy tín trên thế giới và nhiều sáng chế trong lĩnh vực ứng dụng công nghệ nano vào chẩn đoán y sinh học. Hi vọng, đề tài hợp tác này là tiền đề đánh dấu cho sự hợp tác khoa học cũng như sự hợp tác giữa hai trường Đại học, khẳng định vị thế của Đại học Quốc gia Hà Nội trên trường Quốc tế.

Thông tin về đề tài hợp tác chung Nghị định thư giữa Việt Nam và Trung Quốc

Chủ nhiệm phía Việt Nam: TS. Vũ Thị Thơm, Chủ nhiệm Bộ môn Y Dược học cơ sở, Khoa Y Dược, ĐHQGHN

Chủ nhiệm phía Trung Quốc: PGS. TS. Lin Xu và GS. Kun Qian, nhóm nghiên cứu xuất sắc của ĐH Giao thông Thượng Hải và Bệnh viện Giao thông Thượng Hải.  

 

 Thùy Dương - VNU Media
   In bài viết     Gửi cho bạn bè
  Từ khóa :
   Xem tin bài theo thời gian :
TRÊN WEBSITE KHÁC
THĂM DÒ DƯ LUẬN
Bạn sẽ thi vào trường đại học nào?
  • Khoa Quản trị Kinh doanh
  • Trường Đại học Khoa học Tự nhiên
  • Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
  • Trường Đại học Ngoại ngữ
  • Trường Đại học Công nghệ
  • Trường Đại học Kinh tế
  • Trường Đại học Giáo dục
  • Khoa Luật
  • Khoa Quốc tế
  • Khoa Y Dược